Phổ biến pháp luật
 
​Lực lượng CTV tham dự buổi lễ ra quân;Ngày 11.7.2020, tại Bưu điện huyện Gò Dầu, Bảo hiểm xã hội huyện và Bưu điện Gò Dầu tổ chức "Lễ ra quân hưởng ứng Ngày Bảo hiểm Y tế Việt Nam- Tuyên truyền, vận động người dân tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện, Bảo hiểm y tế hộ gia  đình". Với chủ đề " Cả nước chung tay thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân".  Đến ...
 
​ tặng giấy khen cho các thí sinh đạt giải tại hội thi. Ngày 02.7.2020, Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thanh huyện phối hợp với Phòng Giáo Dục- Đào tạo Gò Dầu, tổ chức Hội thi kể chuyện sách Bậc Tiểu học lần thứ XVII năm 2020. Có 27 thí sinh ở các Trường Tiểu học trên địa bàn huyện Gò Dầu tham gia dự thi. Mỗi thí sinh kể một câu chuyện theo sách có chủ đề: Ca ngợi truyền thống yêu ...
 
​quang cảnh hội nghị; Ngày 30.6.2020, tại hội trường Khối Đảng- Đoàn thể huyện. Ủy ban nhân dân huyện Gò Dầu phối hợp với Sở Tư Pháp Tỉnh Tây Ninh tổ chức hội nghị triển khai pháp luật lần thứ 1 năm 2020. Cho khoảng 100 người là lãnh đạo các cơ quan, Báo cáo viên pháp luật huyện, lãnh đạo UBND, công chức tư pháp hộ tịch các xã, thị trấn và lãnh đạo các trường học trên địa bàn huyện Gò Dầu.Tại ...
 
​ cán bộ Công an huyện phổ biến Luật giao thông đường bộ đến học sinh. Sáng ngày 22.6.2020, tại điểm trường Tiểu học Phước Hòa, xã Phước Thạnh, Ban Thường vụ Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Gò Dầu phối hợp cùng Công an huyện và phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức buổi truyền thông “Phòng, ngừa xâm hại trẻ em” và “An toàn giao thông”.Tại buổi truyền thông, cán bộ Công an huyện Gò Dầu đã tuyên ...
 
BTN - UBND tỉnh vừa ban hành Quyết định số 13/2020/QĐ-UBND quy định bố trí các chức danh cán bộ, công chức (CBCC) và tiêu chuẩn của các chức danh công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh.
 
BTN - Ngày 5.3, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2013/NĐ-CP ngày 3.10.2013 quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính. Nghị định chính thức có hiệu lực thi hành ngày 1.5.2020.
 
​Những quy định của pháp luật về loại hình nuôi chim yến Ngày 19/11/2018 Quốc Hội nước Cộng Hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính thức thông qua Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14, đây là dự luật đầu tiên về chăn nuôi được thông qua có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2020. Đồng thời, Pháp lệnh Giống vật nuôi số 16/2004/PL-UBTVQH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật Chăn nuôi có hiệu lực. Nhằm điều chỉnh kịp ...
 
Những điểm mới cần lưu ý của Nghị định số 15/2020/NĐ-CPTrong giai đoạn bùng phát công nghệ thông tin như hiện nay thì các mạng xã hội càng chiếm vị trí quan trọng trong công việc cũng như trong cuộc sống của người dân nhờ những mặt tích cực như: tốc độ chia sẻ, sự lan truyền thông tin một cách nhanh chóng, trao đổi thông tin trên nhiều phương diện… Bên cạnh những mặt tích cực trên thì nó đã ...
 
Xử lý khẩu trang sau khi xử dụng đúng cách để bảo vệ môi trườngTrước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh viêm phổi cấp do chủng vi rút mới Corona (tên gọi quốc tế Covid – 19) gây ra thì tổ chức y tế thế giới WHO và Bộ Y tế Việt Nam có khuyến cáo người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa, trong đó có đeo khẩu trang y tế đúng cách. Thế nhưng hiện nay xuất hiện tình trạng người ...
 
​Một số điểm mới nổi bật của Thông tư 01/2020/TT-BTP Ngày 03/3/2020, Bộ Tư pháp ban hành  Thông tư  01/2020/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, có hiệu lực 20/4/2020. Trong ...
 
 
  
Phân loại
  
  
  
  
  
Tóm tắt
  
  
  
  
Nội dung
Gò Dầu Ra quân hưởng ứng Ngày Bảo hiểm y tế Việt NamCKGò Dầu Ra quân hưởng ứng Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam/PublishingImages/2020-07/DSC04404_Key_14072020100041.JPG
7/12/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

DSC04402.JPG

Lực lượng CTV tham dự buổi lễ ra quân;

Ngày 11.7.2020, tại Bưu điện huyện Gò Dầu, Bảo hiểm xã hội huyện và Bưu điện Gò Dầu tổ chức "Lễ ra quân hưởng ứng Ngày Bảo hiểm Y tế Việt Nam- Tuyên truyền, vận động người dân tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện, Bảo hiểm y tế hộ gia  đình". Với chủ đề " Cả nước chung tay thực hiện bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân".  Đến dự có bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy, ông Phạm Văn Long, Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy, bà Vương Thị Thúy Oanh, Phó chủ tịch HĐND huyện, bà Trương Thị Phú, Phó Chủ tịch UBND huyện Gò Dầu.

Thông qua lễ phát động nhằm tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về BHXH, BHYT, qua đó khẳng định sự quan tâm sâu sắc và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ đối với sự nghiệp an sinh xã hội cho toàn thể nhân dân; tuyên truyền, vận động trực tiếp đối với đối tượng là nông dân và lao động; đặc biệt là các đối tượng thuộc nhóm chưa tham gia BHYT hộ gia đình về quyền và lợi ích khi tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình.

Phát biểu tại buổi lễ, bà Trương Thị Phú Phó Chủ tịch UBND huyện Gò Dầu, đề nghị  BHXH huyện phối hợp với Bưu điện Gò Dầu thực hiện treo băn rol, pa no tuyên truyền trên các tuyến đường chính và nơi công cộng, trong khu dân cư, đồng thời triển khai các đại lý hoặc cộng tác viên để ra quân tuyên truyền trực tiếp tại địa bàn dân cư, tập trung vào nhóm đối tượng là người nông dân và người lao động để phát triển người tham gia BHXH tự nguyện. Bảo hiểm Y tế hộ gia đình. Với chỉ tiêu phát triển tối thiểu là 100 người tham gia BHXH tự nguyện và 200 người tham gia BHYT hộ gia đình.  Riêng đối với  UBND các xã, thị trấn, giao chỉ tiêu khai thác BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình cho nhân viên đại lý thu và tăng cường tuyên truyền cho nhân dân và người lao động tại địa phương.

 Sau buổi lễ, huyện tổ chức đoàn xe loa và lực lượng Cộng tác viên đi diễu hành trên các con đường chính ở các xã, thị trấn, để hưởng ứng ngày BHYT Việt Nam- Tuyên truyền, vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình trên địa bàn huyện, phấn đấu hoàn thành và đạt theo chỉ tiêu đã đề ra trong năm 2020.

Hội thi kể chuyện sách bậc tiểu học huyện Gò Dầu lần thứ XVII năm 2020.TinCKHội thi kể chuyện sách bậc tiểu học huyện Gò Dầu lần thứ XVII năm 2020./PublishingImages/2020-07/19_Key_14072020101127.jpg
7/3/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

18.jpg

tặng giấy khen cho các thí sinh đạt giải tại hội thi.

Ngày 02.7.2020, Trung tâm Văn hóa, Thể thao và Truyền thanh huyện phối hợp với Phòng Giáo Dục- Đào tạo Gò Dầu, tổ chức Hội thi kể chuyện sách Bậc Tiểu học lần thứ XVII năm 2020.

Có 27 thí sinh ở các Trường Tiểu học trên địa bàn huyện Gò Dầu tham gia dự thi. Mỗi thí sinh kể một câu chuyện theo sách có chủ đề: Ca ngợi truyền thống yêu nước, dựng nước và giữ nước của dân tộc ta; Ca ngợi những gương anh hùng liệt sĩ trong 02 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ; Những câu chuyện về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Các gương hiếu thảo, hiếu học, gương người tốt việc tốt và những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết dân gian Việt Nam (có minh họa) đồng thời rút ra bài học cho bản thân.

Qua gần 01 ngày hội thi sôi nổi, hấp dẫn. Ban tổ chức đã trao nhất cho thí sinh Nguyễn Ngọc Phương Anh, Trường tiểu học Phước Trạch với câu chuyện Niềm vui bất ngờ; Thí sinh Võ Kim Ngân Trường tiểu học Xóm Bố, xã HiệpThạnh với câu chuyện Bác Hồ thăm vườn hoa nghìn việc tốt và thí sinh Nguyễn Thị Ngọc Anh Trường Tiểu học Bàu Đồn xã Bàu Đồn với câu chuyện Người con gái miền đất đỏ, đồng đạt giải nhì, ngoài ra BTC còn tặng giấy khen cho 03 giải ba và 10 giải khuyến khích cho các thí sinh đạt thành tích tốt tại hội thi.

              Qua hội thi là nhằm để tạo sân chơi bổ ích, lành mạnh giúp các em thiếu nhi tìm hiểu rõ và tự hào về truyền thống Cách mạng hào hùng của dân tộc ta, tấm gương đạo đức của Bác Hồ vĩ đại, để từ  đó học tập và rèn luyện, noi gương Bác xứng  đáng là con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ. Đồng thời, giúp các em thể hiện năng khiếu của mình, góp phần vào việc hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống của các em để sau này trở thành người có ích cho xã hội.
Gò Dầu triển khai pháp luật lần 1 năm 2020TinCKGò Dầu triển khai pháp luật lần 1 năm 2020/PublishingImages/2020-07/DSC04358_Key_14072020102344.JPG
7/1/2020 11:00 AMNoĐã ban hành

DSC04362.JPG

quang cảnh hội nghị;

Ngày 30.6.2020, tại hội trường Khối Đảng- Đoàn thể huyện. Ủy ban nhân dân huyện Gò Dầu phối hợp với Sở Tư Pháp Tỉnh Tây Ninh tổ chức hội nghị triển khai pháp luật lần thứ 1 năm 2020. Cho khoảng 100 người là lãnh đạo các cơ quan, Báo cáo viên pháp luật huyện, lãnh đạo UBND, công chức tư pháp hộ tịch các xã, thị trấn và lãnh đạo các trường học trên địa bàn huyện Gò Dầu.

Tại hội nghị các đại biểu được nghe các đ/c lãnh đạo của phòng phổ biến giáo dục pháp luật thuộc Sở Tư  Pháp Tây Ninh truyền đạt những nội dung cơ bản của Luật Giáo dục năm 2019 được Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2019. Luật Giáo dục năm 2019 (gồm 9 chương, 115 điều). Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020.

Ngoài ra các đại biểu còn được nghe phổ biến một số nội dung cơ bản của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30.12.2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt và Đề cương tuyên truyền Nghị định 15/202/NĐ-CP, ngày 03/02/2020 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử.

Gò Dầu truyền thông “Phòng, ngừa xâm hại trẻ em” và “An toàn giao thông” ở các điểm trường Tiểu họcTinTCGò Dầu truyền thông “Phòng, ngừa xâm hại trẻ em” và “An toàn giao thông” ở các điểm trường Tiểu học/PublishingImages/2020-06/55_Key_26062020080610.JPG
6/26/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

58.JPG

cán bộ Công an huyện phổ biến Luật giao thông đường bộ đến học sinh.

Sáng ngày 22.6.2020, tại điểm trường Tiểu học Phước Hòa, xã Phước Thạnh, Ban Thường vụ Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Gò Dầu phối hợp cùng Công an huyện và phòng Giáo dục và Đào tạo huyện tổ chức buổi truyền thông “Phòng, ngừa xâm hại trẻ em” và “An toàn giao thông”.

Tại buổi truyền thông, cán bộ Công an huyện Gò Dầu đã tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và hậu quả của tại nạn giao thông đối với mỗi người, mỗi nhà và toàn xã hội; nguy cơ gây tai nạn giao thông do đi không đúng phần đường, làn đường theo qui định; một số lỗi phổ biến mà học sinh mắc phải và quy định xử phạt hiện hành. Đồng thời, hướng dẫn học sinh cách xử lý những tình huống gặp phải khi tham gia giao thông và trong đời sống hàng ngày.

Ngoài ra, cán bộ Công an huyện còn hướng dẫn một số kỹ năng trong phòng tránh xâm hại đối với trẻ em và nâng cao kỹ năng tổ chức các hoạt động phòng ngừa, can thiệp, hỗ trợ các trường hợp trẻ em bị xâm hại.

Qua buổi truyền thông nhằm giúp học sinh nâng cao nhận thức pháp luật an toàn giao thông góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông trên địa bàn huyện; nâng cao nhận thức về vai trò trách nhiệm của nhà trường và các cơ quan trong việc phát hiện và kịp thời giúp đỡ các em học sinh khỏi nguy cơ bị xâm hại, bị bạo lực, tạo điều kiện để các em hòa nhập cộng đồng tốt hơn.

Được biết, trong thời gian tới, Ban Thường vụ Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Gò Dầu sẽ phối hợp truyền thông đến 15 điểm trường Tiểu học trên địa bàn huyện.

Quy định mới về bố trí chức danh cán bộ, công chức và tiêu chuẩn chức danh công chức cấp xãTinQuy định mới về bố trí chức danh cán bộ, công chức và tiêu chuẩn chức danh công chức cấp xã/PublishingImages/2020-05/1589129839_Key_12052020081805.jpg
BTN - UBND tỉnh vừa ban hành Quyết định số 13/2020/QĐ-UBND quy định bố trí các chức danh cán bộ, công chức (CBCC) và tiêu chuẩn của các chức danh công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh.
5/11/2020 9:00 AMNoĐã ban hành

Theo đó, cán bộ cấp xã có 11 chức danh và công chức cấp xã có 7 chức danh. Về số lượng CBCC, xã loại 1 tối đa 23 người (12 cán bộ, 11 công chức), xã loại 2 tối đa 21 người (12 cán bộ, 9 công chức), xã loại 3 tối đa 19 người (11 cán bộ, 8 công chức).

Quyết định cũng quy định rõ mức phụ cấp kiêm nhiệm các chức danh CBCC cấp xã. Theo đó, cán bộ cấp xã đang xếp lương theo bảng lương chức vụ mà kiêm nhiệm chức vụ cán bộ cấp xã thì được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm bằng 50% mức lương bậc 1 của chức vụ kiêm nhiệm.

Cán bộ cấp xã đang xếp lương như công chức hành chính và hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo mà kiêm nhiệm chức vụ cán bộ cấp xã thì được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm bằng 50% mức lương bậc 1 của ngạch công chức hành chính đang xếp cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo của chức vụ kiêm nhiệm.

Cán bộ cấp xã kiêm nhiệm chức danh công chức cấp xã thì được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm bằng 50% mức lương bậc 1 của ngạch công chức hành chính đang xếp của cán bộ cấp xã đang được bố trí kiêm nhiệm.

CBCC cấp xã kiêm nhiệm chức danh người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm bằng 50% mức phụ cấp hằng tháng của chức danh người hoat động không chuyên trách cấp xã theo quy định tại Nghị quyết số 22/2019/NQ-HĐND ngày 6.12.2019 của HĐND tỉnh.

Phụ cấp kiêm nhiệm không dùng để tính đóng và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Cán bộ cấp xã kiêm nhiệm nhiều chức danh cũng chỉ được tính hưởng một mức phụ cấp kiêm nhiệm.

Đáng chú ý là quyết định này cũng quy định rõ việc giải quyết chính sách đối với CBCC cấp xã dôi dư do vượt quá quy định về số lượng CBCC của từng loại xã, hoặc do không đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định.

Tuỳ từng trường hợp cụ thể sẽ được giải quyết tinh giản biên chế theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31.8.2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 108.

Hoặc giải quyết chế độ thôi việc theo quy định của Luật CBCC; nghỉ hưu trước tuổi, nghỉ công tác chờ đủ tuổi nghỉ hưu. Hoặc sẽ được điều chuyển, bổ sung cho các xã, phường, thị trấn thuộc địa bàn cấp huyện trở lên theo quy định tại Nghị định 161/2018/NĐ-CP ngày 29.11.2018 của Chính phủ. 

Phương Thuý

Người vi phạm giao thông có thể được giao tự bảo quản phương tiện TinNgười vi phạm giao thông có thể được giao tự bảo quản phương tiện /PublishingImages/2020-05/bao quan xe_Key_05052020142219.JPG
BTN - Ngày 5.3, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2013/NĐ-CP ngày 3.10.2013 quy định về quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, tịch thu theo thủ tục hành chính. Nghị định chính thức có hiệu lực thi hành ngày 1.5.2020.
4/28/2020 10:00 AMNoĐã ban hành



Các phương tiện bị lực lượng CSGT tạm giữ.

Theo đó, trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được ghi trong quyết định tạm giữ, nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng hoặc trường hợp không xác định được người vi phạm thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng của trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ.

Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày niêm yết công khai, thông báo cuối cùng trên phương tiện thông tin đại chúng, nếu người vi phạm không đến nhận hoặc không xác định được người vi phạm thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xử lý theo quy định tại Điều 82 Luật Xử lý vi phạm hành chính và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Cơ quan ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện có trách nhiệm tiếp tục quản lý, bảo quản tang vật, phương tiện khi đã quá thời hạn tạm giữ mà người vi phạm không đến nhận hoặc không xác định được người vi phạm, trong thời gian niêm yết công khai, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cho đến khi tang vật, phương tiện đó bị tịch thu, xử lý theo quy định.

Sau khi tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu thì được xử lý theo trình tự, thủ tục quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản quy định chi tiết thi hành.

Về trường hợp giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm, bảo quản khi tổ chức, cá nhân vi phạm giao thông bảo đảm các điều kiện: có nơi đăng ký thường trú hoặc có nơi đăng ký tạm trú còn thời hạn hoặc có giấy xác nhận về nơi công tác của cơ quan, tổ chức hoặc có địa chỉ hoạt động rõ ràng và có khả năng tài chính đặt tiền bảo lãnh thì có thể xem xét để giao giữ, bảo quản phương tiện.

Trong trường hợp giao phương tiện giao thông vi phạm hành chính cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản thì họ phải làm đơn gửi cơ quan của người có thẩm quyền đề nghị được giữ, bảo quản phương tiện. Trong đơn ghi rõ thông tin về người và phương tiện vi phạm. Đồng thời, gửi kèm theo bản có công chứng, chứng thực hộ khẩu hoặc sổ tạm trú hoặc CMND, thẻ căn cước.

Trong thời hạn không quá 2 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, cơ quan có thẩm quyền sẽ quyết định việc giao phương tiện cho tổ chức, cá nhân vi phạm giữ, bảo quản.

Nếu được quyền tự bảo quản phương tiện thì tổ chức, cá nhân sẽ không được sử dụng phương tiện này để tham gia giao thông cho đến khi hết hạn tạm giữ phương tiện; trường hợp nếu người sử dụng phương tiện vi phạm tham gia giao thông sẽ bị xử phạt hành vi không đủ điều kiện khi tham gia giao thông.

PHẠM CÔNG

Những quy định của pháp luật về loại hình nuôi chim yếnTinTCNhững quy định của pháp luật về loại hình nuôi chim yến/PublishingImages/2020-05/so26_key_05052020141507_jpg_Key_07052020154732.jpg
4/1/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Những quy định của pháp luật về loại hình nuôi chim yến

 

Ngày 19/11/2018 Quốc Hội nước Cộng Hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính thức thông qua Luật Chăn nuôi số 32/2018/QH14, đây là dự luật đầu tiên về chăn nuôi được thông qua có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2020. Đồng thời, Pháp lệnh Giống vật nuôi số 16/2004/PL-UBTVQH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật Chăn nuôi có hiệu lực.

Nhằm điều chỉnh kịp thời loại hình chăn nuôi yến ở Việt Nam hiện nay, Luật Chăn nuôi đã quy định hẳn nội dung về quản lý nuôi chim yến cụ thể như sau: Dẫn dụ chim yến là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật để thu hút chim yến về làm tổ trong nhà yến. Hoạt động nuôi chim yến bao gồm dẫn dụ, ấp nở, gây nuôi chim yến và khai thác tổ yến.Tổ chức, cá nhân có hoạt động nuôi chim yến trong vùng nuôi chim yến phải bảo đảm môi trường, tiếng ồn, phòng ngừa dịch bệnh và an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.

          Ngoài ra, tại Nghị định số 13/2020/NĐ-CP, ngày 21/01/2020 của Chính phủ hướng dẫn Luật Chăn nuôi còn quy định cụ thể các việc cần làm trong hoạt động quản lý nuôi chim yến như: Quy định về vùng nuôi chim yến; Quy định đối với cơ sở nuôi chim yến; Tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác, sơ chế, bảo quản tổ yến.

- Đối với quy định về vùng nuôi chim yến, Nghị định quy định như sau: Vùng nuôi chim yến do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định và phải bảo đảm phù hợp tập tính hoạt động của chim yến, phù hợp điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương và không gây ảnh hưởng đến đời sống của cư dân tại khu vực nuôi chim yến.

- Đối với cơ sở nuôi chim yến: Nhà yến, trang thiết bị sử dụng cho hoạt động nuôi chim yến phải bảo đảm phù hợp tập tính hoạt động của chim yến.Trường hợp nhà yến đã hoạt động trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng không đáp ứng quy định vùng nuôi chim yến được phê duyệt thì phải giữ nguyên trạng, không được cơi nới; Có đủ nguồn nước bảo đảm chất lượng cho hoạt động nuôi chim yến, có biện pháp bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; Có hồ sơ ghi chép và lưu trữ thông tin về hoạt động nuôi chim yến, sơ chế, bảo quản tổ yến bảo đảm truy xuất được nguồn gốc sản phẩm chim yến;Thiết bị phát âm thanh để dẫn dụ chim yến có cường độ âm thanh đo tại miệng loa không vượt quá 70 dBA (đề xi ben A); thời gian phát loa phóng để dẫn dụ chim yến từ 5 giờ đến 11 giờ 30 và từ 13 giờ 30 đến 19 giờ mỗi ngày, trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản này; Trường hợp nhà yến đã hoạt động trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng không đáp ứng quy định vùng nuôi chim yến được phê duyệt, nhà yến nằm trong khu dân cư, nhà yến cách khu dân cư dưới 300 m thì không được sử dụng loa phóng phát âm thanh; Không săn bắt; không dẫn dụ chim yến để sử dụng vào mục đích khác ngoài mục đích nuôi chim yến để khai thác tổ yến, nghiên cứu khoa học.

- Đối với tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác, sơ chế, bảo quản tổ yến phải thực hiện các yêu cầu sau: Ban hành và tuân thủ quy trình kỹ thuật khai thác, sơ chế, bảo quản tổ yến; Khu vực, nhà, xưởng phục vụ sơ chế, bảo quản tổ yến phải cách xa nguồn gây ô nhiễm, đáp ứng các yêu cầu về vệ sinh an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm; Có biện pháp ngăn ngừa, xử lý phù hợp để bảo đảm sinh vật gây hại không xâm nhập vào khu vực sơ chế, bảo quản tổ yến; Có nguồn nước sử dụng trong sơ chế tổ yến đạt yêu cầu tiêu chuẩn nước sinh hoạt;Tổ yến sau sơ chế phải bảo đảm yêu cầu về kỹ thuật quy định tại Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định này.

Đối với các cơ sở chăn nuôi xây dựng và hoạt động trước ngày Luật Chăn nuôi có hiệu lực thi hành cơ sở thuộc khu vực không được phép chăn nuôi của thành phố, thị xã, thị trấn, khu dân cư (trừ nuôi động vật làm cảnh, nuôi động vật trong phòng thí nghiệm mà không gây ô nhiễm môi trường) thì trong thời hạn là 05 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành phải ngừng hoạt động hoặc di dời đến địa điểm phù hợp.

Đối với cơ sở chăn nuôi xây dựng và hoạt động trước ngày Luật Chăn nuôi có hiệu lực thi hành mà không đáp ứng điều kiện chăn nuôi thì trong thời hạn là 05 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành phải hoàn thiện điều kiện chăn nuôi đáp ứng quy định của Luật này.

Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định khu vực thuộc nội thành của thành phố, thị xã, thị trấn, khu dân cư không được phép chăn nuôi, quyết định vùng nuôi chim yến và chính sách hỗ trợ khi di dời cơ sở chăn nuôi ra khỏi khu vực không được phép chăn nuôi.

          Để ngành chăn nuôi yến tại địa phương được đi vào nền nếp và đúng quy định pháp luật, ngoài hoạt động quản lý nhà nước của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về mặt chuyên môn thì cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở ngành có liên quan như: Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường trong công tác quy định cấp giấy phép xây dựng nhà nuôi yến, các vùng đất được nuôi yến…


Những điểm mới cần lưu ý của Nghị định số 15/2020/NĐ-CPTinNhững điểm mới cần lưu ý của Nghị định số 15/2020/NĐ-CP/PublishingImages/2020-05/so25_key_05052020141636_jpg_Key_07052020155419.jpg
4/1/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Những điểm mới cần lưu ý của Nghị định số 15/2020/NĐ-CP


Trong giai đoạn bùng phát công nghệ thông tin như hiện nay thì các mạng xã hội càng chiếm vị trí quan trọng trong công việc cũng như trong cuộc sống của người dân nhờ những mặt tích cực như: tốc độ chia sẻ, sự lan truyền thông tin một cách nhanh chóng, trao đổi thông tin trên nhiều phương diện… Bên cạnh những mặt tích cực trên thì nó đã và đang kéo theo nạn tin giả, tin xấu, tin độc… Nhất là trong những ngày qua, trước những diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, trên mạng xã hội đã xuất hiện nhiều thông tin giả, thông tin chưa được kiểm chứng gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến công tác phòng chống dịch. Trước tình trạng đó, các cơ quan chức năng đã vào cuộc kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm trên cơ sở những quy định tại Nghị định 174/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện. Trên địa bàn tỉnh Tây Ninh cũng như các địa phương khác, nếu cá nhân, tổ chức có những hành vi tung tin không đúng về Covid -19 đều bị xử lý nghiêm khắc theo quy định, cụ thể như:

Trường hợp ngày 18/2/2020, Công an huyện Dương Minh Châu phát hiện tài khoản Facebook “Thủy Nguyễn” của Nguyễn Hữu Thủy đã đăng tải nội dung sai sự thật về dịch COVID -19 với nội dung: “Nghe nói Tây Ninh có người bên china (ý nói là Trung Quốc) với bên campu (ý nói là Campuchia) về bị nhiễm virus Corona. Nguy hiểm quá”; “Trốn thôi anh em ơi. Corona tới” hoặc trường hợp vào sáng ngày 18/2/2020, Quân đã sử dụng tài khoản Facebook cá nhân có tên “Quân mã tấu” tên thật là Lâm Tấn Quân (sinh năm 1991, có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Sóc Trăng), đang cư trú tại tỉnh Tây Ninh, Quân đã đăng tâm trạng với nội dung "đang cảm thấy đau khổ cùng với... tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh” và “Bị nhiễm virus Corona rồi, kiểu này chắc sớm gặp ông bà quá”… Hai hành vi trên đã bị Công an huyện Dương Minh Châu và Công an huyện Gò Dầu xem xét và quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 64, Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện (gọi tắt Nghị định số 174/2013/NĐ-CP).

Tuy nhiên, từ ngày 15/4/2020, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử (gọi tắt Nghị định số 15/2020/NĐ-CP) chính thức có hiệu lực thay thế Nghị định số 174/2013/NĐ-CP quy định cụ thể về trách nhiệm sử dụng mạng xã hội. Nếu như Nghị định 174/2013/NĐ-CP chưa quy định rõ về việc chia sẻ thông tin giả mạo, thì tại Điều 101, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP  nêu rõ mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; cung cấp, chia sẻ thông tin cổ xúy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc… với mức phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng. Mức phạt này cũng áp dụng đối với hành vi quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm; cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành, tịch thu.

Mức phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng được áp dụng đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật Nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài phạt tiền, Nghị định cũng quy định biện pháp khắc phục hậu quả là buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật, gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật.

Ngoài ra, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP còn quy định tăng mức xử phạt đối với tin nhắn rác. Vấn đề quản lý sim rác, tin nhắn rác thời gian qua đã được Bộ Thông tin và Truyền thông có những biện pháp mạnh tay kiểm soát. Tuy nhiên, tình trạng này vẫn còn tồn tại với biến tướng tinh vi hơn để qua mặt các nhà mạng. Để khắc phục tình trạng trên, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP đã bổ sung nhiều điểm mới cũng như tăng mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm liên quan đến nhắn tin rác qua điện thoại, email của người sử dụng so với Nghị định số 174/2013/NĐ-CP.

Tại điểm b khoản 6 Điều 94 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP quy định: Tổ chức sẽ bị phạt tiền từ 60 - 80 triệu đồng khi có hành vi gửi hoặc phát tán tin nhắn rác, thư điện tử rác, phần mềm độc hại (trong khi Mức phạt của Nghị định số 174/2013/NĐ-CP  quy định phạt từ 40 - 50 triệu đồng). Ngoài phạt tiền còn có thể bị áp dụng thêm các hình thức xử phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả như: Đình chỉ hoạt động cung cấp dịch vụ từ 1 - 3 tháng; tước quyền sử dụng mã số quản lý, tên định danh từ 1 - 3 tháng; buộc thu hồi đầu số, kho số viễn thông.

Không chỉ thế, mức phạt từ 60 - 80 triệu đồng cũng được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân có các hành vi vi phạm sau: Không có đầy đủ các hình thức từ chối nhận thư điện tử quảng cáo hoặc từ chối nhận tin nhắn quảng cáo; gửi hoặc phát tán thư điện tử rác, tin nhắn rác, phần mềm độc hại; tạo hàng loạt cuộc gọi nhỡ nhằm dụ dỗ người sử dụng gọi điện thoại, nhắn tin đến các số cung cấp dịch vụ nội dung để trục lợi hoặc để cung cấp thông tin, quảng cáo; khai thác, sử dụng các số dịch vụ, số thuê bao viễn thông không đúng mục đích; số dịch vụ gọi tự do, số dịch vụ gọi giá cao được mở chiều gọi đi hoặc để gửi tin nhắn hoặc nhận tin nhắn.

Nghị định số 15/2020/NĐ-CP bổ sung mức phạt tiền từ 1 - 2 triệu đồng đối với hành vi cung cấp số điện thoại liên hệ trong các biển quảng cáo, rao vặt được treo, đặt, dán, vẽ trên cột điện, trụ điện, cột tín hiệu giao thông, bờ tường, cây xanh, nơi công cộng (khoản  Điều 94); phạt tiền 5 - 10 triệu đồng đối với một trong các hành vi gửi thư điện tử quảng cáo, tin nhắn quảng cáo nhưng chưa được sự đồng ý của người nhận (khoản 2 Điều 94)…

Đặc biệt, theo quy định tại khoản 6 Điều 94 của Nghị định thì phạt tiền từ 80 - 100 triệu đồng đối với tổ chức có hành vi quảng cáo bằng thư điện tử hoặc quảng cáo bằng tin nhắn hoặc cung cấp dịch vụ nhắn tin qua mạng Internet nhưng không có hệ thống tiếp nhận, xử lý yêu cầu từ chối của người nhận. Riêng đối với trường hợp tổ chức cung cấp dịch vụ có hành vi không ngăn chặn, thu hồi số thuê bao được dùng để phát tán tin nhắn rác thì sẽ bị phạt tiền từ 180 - 200 triệu đồng theo quy định tại khoản 8 Điều 94 Nghị định 15/2020/NĐ-CP. Với cùng hành vi vi phạm, mức phạt đối với cá nhân bằng một nửa so với vi phạm của tổ chức.

Một trong những điểm mới của Nghị định 15/2020/NĐ-CP là quản lý nội dung khách hàng truy cập tại các đại lý internet công cộng. Theo khoản 3, Điều 35, Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định, phạt tiền 5 - 10 triệu đồng đối với các hành vi: Tổ chức hoặc cho phép người sử dụng internet sử dụng tính năng của máy tính tại địa điểm kinh doanh của mình để thực hiện hành vi bị cấm theo quy định về sử dụng internet và thông tin trên mạng; để người sử dụng internet truy cập, xem, tải các thông tin, hình ảnh, phim có nội dung đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan.

Nghị định số 15/2020/NĐ-CP quy định, bên cạnh hình thức cảnh cáo và phạt tiền, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung khác như: Tước giấy phép có thời hạn đối với giấy phép bưu chính, viễn thông, thiết lập mạng viễn thông, giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện, giấy phép kinh doanh sản phẩm, thiếp lập mạng xã hội…; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 1 - 24 tháng...

Nhiều quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực: Bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, CNTT (gồm phát triển công nghiệp CNTT; đầu tư, mua sắm; an toàn thông tin mạng; chống thư rác, tin nhắn rác; mạng xã hội, trang thông tin điện tử...) và các giao dịch điện tử cũng được Nghị định số 15/2020/NĐ-CP quy định cụ thể, chi tiết hơn so với Nghị định số 174/2013/NĐ-CP.

Văn Thiệt

Xử lý khẩu trang sau khi xử dụng đúng cách để bảo vệ môi trườngTinXử lý khẩu trang sau khi xử dụng đúng cách để bảo vệ môi trường/PublishingImages/2020-05/so22_key_05052020142000_jpg_Key_07052020155658.jpg
3/28/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Xử lý khẩu trang sau khi xử dụng đúng cách để bảo vệ môi trường


Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh viêm phổi cấp do chủng vi rút mới Corona (tên gọi quốc tế Covid – 19) gây ra thì tổ chức y tế thế giới WHO và Bộ Y tế Việt Nam có khuyến cáo người dân chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa, trong đó có đeo khẩu trang y tế đúng cách. Thế nhưng hiện nay xuất hiện tình trạng người dân vứt bỏ khẩu trang bừa bãi, không đúng nơi quy định, làm gia tăng nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và lây lan dịch bệnh.

 

Như vậy, hành vi vứt khẩu trang bừa bãi của người dân đã vi phạm các quy định trong lĩnh vực bảo vệ môi trường được quy định tại Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ, cụ thể như sau:

- Thứ nhất, căn cứ quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 20 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, người dân có thể bị “Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vứt khẩu trang không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng...  

- Thứ hai, Căn cứ điểm d, khoản 1 Điều 20 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì người dân có thể bị Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi vứt khẩu trang trên vỉa hè, đường phố hoặc vào hệ thống thoát nước thải đô thị hoặc hệ thống thoát nước mặt trong khu vực đô thị.”

 

Trước tình hình đó thì các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm quản lý cần tăng cường các hoạt động tuyên truyền trên mọi phương tiện thông tin đại chúng để người dân biết và chấp hành. Đồng thời xử phạt nghiêm những hành vi vi phạm tại địa phương. Mặc khác, người dân cần phải tự nâng cao ý thức phòng bệnh có hiệu quả với việc chung tay bảo vệ môi trường để xã hội càng văn minh hơn.

Thiệt TV

Một số điểm mới nổi bật của Thông tư 01/2020/TT-BTPTinMột số điểm mới nổi bật của Thông tư 01/2020/TT-BTP/PublishingImages/2020-05/so23_key_05052020142018_jpg_Key_07052020155910.jpg
3/28/2020 4:00 PMNoĐã ban hành

Một số điểm mới nổi bật của Thông tư 01/2020/TT-BTP

 

Ngày 03/3/2020, Bộ Tư pháp ban hành  Thông tư  01/2020/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch, có hiệu lực 20/4/2020.

 

Trong đó có một số điểm mới nổi bật của Thông tư 01/2020/TT-BTP như:

 

1. Về cách ghi số chứng thực

 

Thông tư 01/2020/TT-BTP đã quy định cụ thể cách ghi số chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, cụ thể:

 

1. Số chứng thực bản sao từ bản chính theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 20 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP là số chứng thực được ghi theo từng loại giấy tờ được chứng thực; không lấy số chứng thực theo lượt người yêu cầu chứng thực.

 

Thông tư 01/2020/TT-BTP hướng dẫn Nghị định 23/2015 về chứng thực

Thông tư 01/2020/TT-BTP hướng dẫn Nghị định 23/2015 về chứng thực

Ví dụ: ông A yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính 03 (ba) loại giấy tờ: chứng minh nhân dân mang tên ông Nguyễn Văn A, chứng minh nhân dân mang tên bà Nguyễn Thị B và sổ hộ khẩu của hộ gia đình ông Nguyễn Văn A. Khi lấy số chứng thực, bản sao chứng minh nhân dân mang tên ông Nguyễn Văn A được ghi một số, bản sao chứng minh nhân dân mang tên bà Nguyễn Thị B được ghi một số và bản sao sổ hộ khẩu của hộ gia đình ông Nguyễn Văn A được ghi một số. Như vậy, cơ quan thực hiện chứng thực sẽ lấy 03 (ba) số chứng thực khác nhau cho 03 (ba) loại giấy tờ.

 

2. Số chứng thực chữ ký trên giấy tờ, văn bản và chứng thực chữ ký người dịch là số chứng thực được ghi theo từng loại giấy tờ, văn bản cần chứng thực chữ ký; không lấy số chứng thực theo lượt người yêu cầu chứng thực.

 

 

 

Ví dụ 1: Ông Trần Văn H yêu cầu chứng thực chữ ký trên tờ khai lý lịch cá nhân và giấy ủy quyền nhận lương hưu, thì phải ghi thành 02 (hai) số chứng thực khác nhau. 01 (một) số đối với chứng thực chữ ký trên tờ khai lý lịch cá nhân và 01 (một) số đối với chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền nhận lương hưu.

 

Ví dụ 2: Bà Lê Thị B yêu cầu chứng thực chữ ký người dịch (theo mẫu chữ ký người dịch đã đăng ký với Phòng Tư pháp) đối với 03 (ba) loại giấy tờ: bản dịch hộ chiếu, bản dịch thư mời hội nghị và bản dịch hợp đồng. Mỗi loại bản dịch phải ghi 01 (một) số chứng thực. Trong trường hợp này, Phòng Tư pháp sẽ lấy 03 (ba) số chứng thực, không được ghi gộp 03 (ba) việc thành 01 (một) số chứng thực cho một người.

 

3. Số chứng thực hợp đồng được ghi theo từng việc; không lấy số theo lượt người yêu cầu hoặc theo số bản hợp đồng.

 

Ví dụ: ông Lê Văn H và bà Nguyễn Thị M yêu cầu chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và chứng thực hợp đồng cho thuê cửa hàng. Trong trường hợp này phải lấy 01 (một) số chứng thực cho hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và 01 (một) số chứng thực cho hợp đồng thuê cửa hàng.

 

2. Về thu hồi, hủy bỏ văn bản đã chứng thực không đúng pháp luật

 

Nghị định 23/2015/NĐ-CP cũng như Thông tư 20/2015/TT-BTP chỉ quy định về giá trị pháp lý của bản sao được chứng thực, không quy định việc thu hồi, hủy bỏ văn bản chứng thực không đúng pháp luật đã gây khó khăn cho các cơ quan khi phát hiện chứng thực bản sao, chứng thực chữ ký không đúng thì thu hồi, hủy bỏ như thế nào.

 

 

 

Thông tư 01/2020/TT-BTP đã quy định cụ thể các vấn đề trên, theo đó tại Điều 7 quy định  Giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản đã được chứng thực không đúng quy định pháp luật như sau:

 

1. Các giấy tờ, văn bản được chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký không đúng quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP và Thông tư này thì không có giá trị pháp lý.

 

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm ban hành quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản chứng thực quy định tại khoản 1 Điều này đối với giấy tờ, văn bản do Phòng Tư pháp chứng thực. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm ban hành quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản chứng thực quy định tại khoản 1 Điều này đối với giấy tờ, văn bản do cơ quan mình chứng thực.

 

Sau khi ban hành quyết định hủy bỏ giấy tờ, văn bản chứng thực, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm đăng tải thông tin về giấy tờ, văn bản đã được chứng thực nhưng không có giá trị pháp lý lên Cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

 

3. Người đứng đầu Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự và các cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm ban hành quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản chứng thực quy định tại khoản 1 Điều này đối với giấy tờ, văn bản do cơ quan mình chứng thực và đăng tải thông tin về giấy tờ, văn bản đã được chứng thực nhưng không có giá trị pháp lý lên Trang thông tin điện tử của cơ quan mình.

 

 

 

4. Việc ban hành quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý và đăng tải thông tin thực hiện ngay sau khi phát hiện giấy tờ, văn bản đó được chứng thực không đúng quy định pháp luật.

 

3. Về chứng thực bản sao từ bản chính

 

– Thông tư 01 kế thừa Thông tư 20 quy định: Bản sao từ bản chính để chứng thực phải gồm đầy đủ số trang có thông tin của bản chính.

 

Ví dụ: chứng thực bản sao từ bản chính sổ hộ khẩu thì phải chụp đầy đủ trang bìa và các trang của sổ đã ghi thông tin về các thành viên có tên trong sổ; chứng thực hộ chiếu thì phải chụp cả trang bìa và toàn bộ các trang của hộ chiếu có ghi thông tin.

 

– Người thực hiện chứng thực (đối với trường hợp người thực hiện chứng thực tiếp nhận hồ sơ), người tiếp nhận hồ sơ tại bộ phận một cửa, một cửa liên thông có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu bản sao với bản chính và bảo đảm chỉ thực hiện chứng thực bản sao sau khi đã đối chiếu đúng với bản chính.

 

– Nếu phát hiện bản chính thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 22 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì cơ quan thực hiện chứng thực từ chối tiếp nhận hồ sơ. Trường hợp người yêu cầu chứng thực sử dụng bản chính bị tẩy xóa, thêm bớt, làm sai lệch nội dung, sử dụng giấy tờ giả hoặc bản sao có nội dung không đúng với bản chính thì người tiếp nhận, giải quyết hồ sơ lập biên bản vi phạm, giữ lại hồ sơ để đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.

 

4. Chứng thực chữ ký trên Giấy ủy quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP

 

Nghị định 23/2015/NĐ-CP cũng như Thông tư 20 không quy định rõ ràng, cụ thể về chứng thực giấy ủy quyền. Thông tư 01 đã bổ sung khá cụ thể về chứng thực giấy ủy quyền tại Điều 14 như sau:

 

Thủ tục chứng thực chữ ký

Thủ tục chứng thực chữ ký

1. Việc ủy quyền theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 24 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thỏa mãn đầy đủ các điều kiện như không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản thì được thực hiện dưới hình thức chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền.

 

2. Phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này, việc chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

 

 

 

a) Ủy quyền về việc nộp hộ, nhận hộ hồ sơ, giấy tờ, trừ trường hợp pháp luật quy định không được ủy quyền;

 

b) Ủy quyền nhận hộ lương hưu, bưu phẩm, trợ cấp, phụ cấp;

 

c) Ủy quyền nhờ trông nom nhà cửa;

 

d) Ủy quyền của thành viên hộ gia đình để vay vốn tại Ngân hàng chính sách xã hội.

 

3. Đối với việc ủy quyền không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì không được yêu cầu chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền; người yêu cầu chứng thực phải thực hiện các thủ tục theo quy định về chứng thực hợp đồng, giao dịch.

 

5. Chứng thực chữ ký trong tờ khai lý lịch cá nhân

 

Nghị định 23/2015/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp, Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực đều hướng dẫn khi chứng thực lý lịch cá nhân là chứng thực chữ ký và không được phê vào nội dung lý lịch. Tuy nhiên, nhiều cơ quan, doanh nghiệp, trường học đều yêu cầu phải ghi nhận xét về hạnh kiểm, chấp hành pháp luật dẫn đến UBND xã rất lúng túng, nếu ghi vào lý lịch thì không đúng pháp luật, không ghi thì gây khó khăn cho công dân.

 

Thông tư 01/2020/TT-BTP đã tháo gỡ được vướng mắc ở trên, cụ thể tại Điều 14 quy định:

 

1. Các quy định về chứng thực chữ ký tại Mục 3 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP được áp dụng để chứng thực chữ ký trên tờ khai lý lịch cá nhân. Người thực hiện chứng thực không ghi bất kỳ nhận xét gì vào tờ khai lý lịch cá nhân, chỉ ghi lời chứng chứng thực theo mẫu quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác về việc ghi nhận xét trên tờ khai lý lịch cá nhân thì tuân theo pháp luật chuyên ngành.

 

2. Người yêu cầu chứng thực phải chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung trong tờ khai lý lịch cá nhân của mình. Đối với những mục không có nội dung trong tờ khai lý lịch cá nhân thì phải gạch chéo trước khi yêu cầu chứng thực.

Thiệt TV

Kế hoạch Hội thi " Hoà giải viên giỏi" huyện Gò Dầu lần IV năm 2020TinKế hoạch Hội thi " Hoà giải viên giỏi" huyện Gò Dầu lần IV năm 2020/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
3/19/2020 8:00 AMNoĐã ban hành
Khuyến cáo đeo khẩu trang đúng cách để phòng chống lây nhiễm viêm đường hô hấp cấp COVID-19TinKhuyến cáo đeo khẩu trang đúng cách để phòng chống lây nhiễm viêm đường hô hấp cấp COVID-19/PublishingImages/2020-04/deokhautrang_Key_01042020090450.jpg
3/18/2020 10:00 AMNoĐã ban hành

Thực hiện Công văn Số 496/CV-BCĐ ngày 15/3/2020 của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch bệnh của tỉnh, trong đó có ý kiến chỉ đạo: “Từ ngày 16/3/2020, triển khai thực hiện nghiêm việc đeo khẩu trang tại các nơi công cộng có tập trung đông người (tại các cơ quan, công sở, siêu thị, bến xe, công viên, trên các phương tiện giao thông công cộng…)”.

deokhautrang.jpg

Ảnh minh họa

Qua khảo sát một số nơi chưa thực hiện nghiêm túc, một số nơi chưa có thông tin của Công văn số 496/CV-BCĐ ngày 15/3/2020. Sở Y tế kính gửi khuyến cáo của ngành Y tế về việc đeo khẩu trang đúng cách để phòng chống lây nhiễm viêm đường hô hấp cấp COVID-19 cụ thể như sau:

Mục đích đeo khẩu trang nhằm chắn giọt bắn trong tiếp xúc, vì vậy chỉ cần mang khẩu trang khác không cần thiết đeo khẩu trang y tế đối với: Người khoẻ mạnh, không có các dấu hiệu bệnh về đường hô hấp như sốt, ho, khó thở, chảy nước mũi… khi đến các khu vực tập trung đông người như bến xe, nhà ga, sân bay, siêu thị…

* Cách đeo khẩu trang vải đúng cách: Che kín cả mũi, miệng; Không sờ tay vào bề mặt khẩu trang trong suốt thời gian đeo; Chỉ cầm vào dây đeo khi tháo khẩu trang; Giặt khẩu trang hằng ngày bằng xà phòng để sử dụng cho lần sau.

Đối với khẩu trang y tế: chỉ dành cho Cán bộ y tế tiếp xúc với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh, tiếp xúc với mẫu bệnh phẩm. Người chăm sóc hoặc tiếp xúc gần với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh. Người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh, người trong diện cách ly. Người đến cơ sở y tế, người thực hiện nhiệm vụ trong vùng có dịch bệnh

*  Cách đeo khẩu trang y tế đúng cách: Khẩu trang y tế chỉ dùng 1 lần; Đeo mặt màu (xanh, xám) ra ngoài, mặt trắng vào trong, kẹp nhôm hướng lên trên, ấn kẹp nhôm ôm sát vào sống mũi; Che kín cả mũi, miệng; Không sờ tay vào bề mặt khẩu trang trong suốt thời gian đeo; Tháo khẩu trang bằng cách cầm vào dây đeo rồi bỏ ngay vào thùng rác.

Lưu ý: Rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước chảy hoặc bằng nước rửa tay có cồn sau khi tháo khẩu trang

Đây là vấn đề sức khỏe cộng đồng, kính mong các sở, ban ngành, Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố triển khai nhằm chung tay góp phần bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng.

SYT

Tham gia bảo hiểm y tế là cách tốt nhất để cộng đồng chia sẻ rủi ro khi ốm đau, bệnh tậtTinTham gia bảo hiểm y tế là cách tốt nhất để cộng đồng chia sẻ rủi ro khi ốm đau, bệnh tật/PublishingImages/2020-05/so20_key_05052020142242_jpg_Key_07052020160139.jpg
3/15/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

Tham gia bảo hiểm y tế là cách tốt nhất để cộng đồng

chia sẻ rủi ro khi ốm đau, bệnh tật

______________

 

Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện.

Người tham gia bảo hiểm y tế có quyền đăng ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến xã, tuyến huyện hoặc tương đương; trừ trường hợp được đăng ký tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Trường hợp người tham gia bảo hiểm y tế phải làm việc lưu động hoặc đến tạm trú tại địa phương khác thì được khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với tuyến chuyên môn kỹ thuật và nơi người đó đang làm việc lưu động, tạm trú theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Người tham gia bảo hiểm y tế được thay đổi cơ sở đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu vào đầu mỗi quý; khi đến khám bệnh, chữa bệnh phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế có ảnh, trường hợp thẻ bảo hiểm y tế chưa có ảnh thì phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế cùng với giấy tờ chứng minh về nhân thân của người đó, đối với trẻ em dưới 6 tuổi chỉ phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế.

Trường hợp cấp cứu, người tham gia bảo hiểm y tế được khám bệnh, chữa bệnh tại bất kỳ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào và phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế cùng với giấy tờ theo quy định trước khi ra viện. Trường hợp chuyển tuyến điều trị, người tham gia bảo hiểm y tế phải có hồ sơ chuyển viện của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp khám lại theo yêu cầu điều trị, người tham gia bảo hiểm y tế phải có giấy hẹn khám lại của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Nhà nước đóng hoặc hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm y tế cho người có công với cách mạng và một số nhóm đối tượng xã hội; có chính sách ưu đãi đối với hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm y tế để bảo toàn và tăng trưởng quỹ, nguồn thu của quỹ và số tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm y tế được miễn thuế. Nhà nước tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm y tế hoặc đóng bảo hiểm y tế cho các nhóm đối tượng; khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến trong quản lý bảo hiểm y tế.

Nghiêm cấm hành vi không đóng hoặc đóng bảo hiểm y tế không đầy đủ theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế; gian lận, giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế; sử dụng tiền đóng bảo hiểm y tế, quỹ bảo hiểm y tế sai mục đích; cản trở, gây khó khăn hoặc làm thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm y tế và của các bên liên quan đến bảo hiểm y tế; cố ý báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu về bảo hiểm y tế; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, chuyên môn, nghiệp vụ để làm trái với quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế./.                  

Thiệt TV

Kế hoạch Tổ chức Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động năm 2020TinKế hoạch Tổ chức Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động năm 2020/PublishingImages/2020-04/4_1_Key_01042020090221.jpg
3/14/2020 10:00 AMNoĐã ban hành
Ngày 03/3/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 398/KH-UBNDTổ chức Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động năm 2020, với chủ đề “Đẩy mạnh cải thiện điều kiện lao động và kiểm soát các nguy cơ rủi ro về An toàn, vệ sinh lao độngtại nơi làm việc”, Thời gian tổ chức Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động năm 2020 được tổ chức trên phạm vi toàn tỉnh từ ngày 01 đến ngày 31 tháng 5 năm 2020.


Ảnh minh họa

Với mục đích thúc đẩy các chương trình, hoạt động cụ thể để phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, cải thiện điều kiện lao động trong các cơ sở, doanh nghiệp; nâng cao ý thức, nhận thức cho người sử dụng lao động và người lao động trong thực hiện Luật An toàn, vệ sinh lao động.

Theo kế hoạch, các hoạt động trong Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động và cả năm 2020, gồm: Phát động Lễ phát động Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động tại các đơn vị cấp tỉnh, huyện, thị xã, thành phố, tùy theo điều kiệnvà tình hình thực tế; Tổ chức các hoạt động truyền thông, tư vấn, hướng dẫn, huấn luyện về An toàn, vệ sinh lao động bằng xây dựng phát hành ấn phẩm, tài liệu hướng dẫn về An toàn, vệ sinh lao động tới doanh nghiệp, người lao động; Gửi tin nhắn về An toàn, vệ sinh lao độngqua điện thoại di động, phát sóng các thông điệp, cảnh báo tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Tuyên truyền trên hệ thống đài truyền thanh cấp huyện, thị xã, thành phố, xã, phường, hệ thống thông tin của các doanh nghiệp. Đồng thời tăng cường kiểm tra, rà soát các nguy cơ mất An toàn, vệ sinh lao độngtại các công trình xây dựng, giao thông đông người qua lại.

Chú trọng các hoạt động thanh, kiểm tra liên ngành về công tác An toàn, vệ sinh lao động; trong đó tập trung vào một số ngành nghề, lĩnh vực có nguy cơ rủi ro cao về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Tổ chức các hoạt động có sự tham gia của doanh nghiệp, người lao động như hội thi, tọa đàm, đối thoại triển khai chính sách với doanh nghiệp, người lao động về An toàn, vệ sinh lao động; tổ chức các lớp bồi dưỡng, huấn luyện, hội nghị, hội thảo chuyên đề về An toàn, vệ sinh lao động; thăm hỏi, động viên nạn nhân và gia đình nạn nhân bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

UBND tỉnh giao Sở Lao động – Thương binh và Xã hội (Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo tỉnh) chủ trì phối hợp với các sở, ban, ngành tỉnh tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc, hướng dẫn trong công tác chuẩn bị và triển khai tổ chức thực hiện các hoạt động hưởng ứng Tháng hành động. Xây dựng Kế hoạch và tổ chức các hoạt động hưởng ứng Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động.

Các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh tích cực hưởng ứng, hỗ trợ các hoạt động trong Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động, chủ động hướng dẫn các đơn vị trực thuộc hưởng ứng Tháng hành động về An toàn, vệ sinh lao động. Tổng kết, đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện.

Nội dung chi tiết xem tại đây.

Hoàng Tuấn

MỘT SỐ QUY ĐỊNH CẦN BIẾT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆNTinMỘT SỐ QUY ĐỊNH CẦN BIẾT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN/PublishingImages/2020-05/so17_key_05052020142551_png_Key_07052020160243.jpg
3/1/2020 5:00 PMNoĐã ban hành

MỘT SỐ QUY ĐỊNH CẦN BIẾT

VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

_____________

 

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.

Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Mức đóng và phương thức đóng của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định như sau:

1. Hằng tháng đóng bằng 22% mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn để đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở.

2. Người lao động được chọn một trong các phương thức đóng sau đây:

a) Hằng tháng;

b) 03 tháng một lần;

c) 06 tháng một lần;

d) 12 tháng một lần;

đ) Một lần cho nhiều năm về sau với mức thấp hơn mức đóng hằng tháng hoặc một lần cho những năm còn thiếu với mức cao hơn mức đóng hằng tháng.

Mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng bình quân các mức thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian đóng.

Thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội để làm căn cứ tính mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đăng ký tham gia bảo hiểm xã hội lần đầu nộp Tờ khai tham gia bảo hiểm xã hội cho cơ quan Bảo hiểm xã hội.

Người lao động nộp hồ sơ cấp lại sổ bảo hiểm xã hội cho cơ quan Bảo hiểm xã hội, gồm: Đơn đề nghị cấp lại sổ bảo hiểm xã hội của người lao động; Sổ bảo hiểm xã hội trong trường hợp bị hỏng./.       

Thiệt TV